ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH BÓ THÁP TRÊN DIFFUSION TENSOR IMAGING CỦA NGƯỜI BÌNH THƯỜNG VÀ CÁC THAY ĐỔI TRONG NHỒI MÁU NÃO CẤP

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH BÓ THÁP TRÊN “DIFFUSION TENSOR IMAGING” CỦA NGƯỜI BÌNH THƯỜNG VÀ CÁC THAY ĐỔI TRONG NHỒI MÁU NÃO CẤP
Nguyễn Thị Thanh Hoa*, Lê Văn Phước**, Lâm Thanh Ngọc*
TÓM TẮT :
Đặt vấn đề: Cộng hưởng từ khuếch tán theo hướng là phương pháp không xâm lấn không những giúp mô tả tính toàn vẹn của bó tháp mà còn giúp mô tả những thay đổi trong nhồi máu não cấp.

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm bó tháp ở người bình thường và các thay đổi trong tổn thương nhồi máu não cấp dựa trên kỹ thuật cộng hưởng từ khuếch tán theo hướng (DTI).

MÃ TÀI LIỆU

YHHCM.2019.00514

Giá :

10.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca ở 103 người trưởng thành, chia 2 nhóm: 61 người bình thường và 42 bệnh nhân nhồi não cấp tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 09/2017 đến tháng 07/2018. Khảo sát bằng DTI trên máy Skyra 3T, hãng Siemens. So sánh các thông số phân suất khuếch tán không đẳng hướng (FA), khuếch tán trung bình (MD) ở các vị trí giải phẫu bó tháp bình thường (trung tâm bán bầu dục, chi sau bao trong, cầu não), vị trí tổn thương nhồi máu và vùng đối bên.

Kết quả: Ở nhóm người trưởng thành bình thường, DTI cho thấy: giá trị FA ở chi sau bao trong và cầu não bên trái cao hơn bên phải (0,72 ± 0,04 và 0,66 ± 0,08 so với 0,69 ± 0,05 và 0,61 ± 0,09). FA cao nhất ở chi sau bao trong so với các vị trí khác (bên phải: 0,69 ± 0,05; bên trái: 0,72 ± 0,04). Tại trung tâm bán bầu dục, FA tương quan nghịchvàMDtương quan thuậnvới tuổi (bên phải: giá trị r lần lượt là -0,313; 0,357; bên trái: giá trị r lần lượt là -0,43; 0,284). Tuy nhiên các tỷ số rFA, rMD không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi. Ở nhóm bệnh nhân nhồi máu não cấp, rFA có giá trị nhất trong chẩn đoán nhồi máu não ở giai đoạn tối cấp với độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm lần lượt là 100%; 92,1%; 57,1%; 100%. rFA tương quan nghịch với thời gian khởi phát tại trung tâm bán bầu dục, vị trí nhồi máu (r lần lượt là -0,432; -0,503), tương quan nghịch với thể tích tổn thương nhồi máu (r = -0.392). Giá trị FA tại vị trí nhồi máu chỉ tăng trong vòng 6 giờ, sau đó FA giảm dần theo thời gian (giá trị rFA dưới 6 giờ: 1,14 ± 0,09;6 giờ – 3 ngày: 0,85 ± 0,36 và 3 – 7 ngày: 0,67 ± 0,48). rMD tương quan thuận với thể tích tổn thương nhồi máu (r = 0,595).

Kết luận: DTI là kỹ thuật không xâm lấn,có giá trị, giúp nghiên cứu hình ảnh bó tháp bình thường cũng như chẩn đoán, đánh giá các thay đổi, dự đoán được kết cục lâm sàng trong nhồi máu não cấp.

Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tàn tật, nguyên nhân đứng thứ hai gây sa sút trí tuệ và đứng hàng thứ tư trong các nguyên nhân gây tử vong ở Mỹ. Tại Mỹ, tỷ lệ đột quỵ khoảng
3% dân số trưởng thành, nghĩa là khoảng 7 triệu dân số. Người ta ước tính đến năm 2020 tỉ lệ sẽ tăng gấp đôi cùng với quá trình hiện đại hóa và gia tăng tuổi thọ(14).
Bó tháp là một trong những bó ly tâm lớn nối vỏ não vận động đến thân não và tủy sống. Hiểu được cấu trúc giải phẫu của bó tháp rất quan trọng đối với những nhà hình ảnh học và thần kinh học trong việc đánh giá mức độ tổn thương hay di chứng của các bệnh lý thần kinh.
Kỹ thuật khuếch tán theo lực (DTI) là một phương pháp không xâm lấn để nghiên cứu cấu trúc các bó chất trắng và hứa hẹn trong đánh giá tổn thương thiếu máu não. Nghiên cứu này của chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm giải phẫu bình thường của bó tháp trên DTI gồm: sự bất cân xứng, phân suất khuếch tán không đẳng hướng (FA), khuếch tán trung bình (MD), các thay đổi liên quan độ tuổi … và những thay đổi bó tháp trên DTI ở bệnh nhân nhồi máu não cấp. Nghiên cứu thực hiện ở bệnh viện Chợ Rẫy