ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỘNG HƯỞNG TỪ VÀ GIẢI PHẪU BỆNH VỀ DIỆN CẮT CHU VI TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ TRỰC TRÀNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỘNG HƯỞNG TỪ VÀ GIẢI PHẪU BỆNH VỀ DIỆN CẮT CHU VI TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ TRỰC TRÀNG
Phạm Vũ Minh Hoàng1, Nguyễn Đình Thạch2, Nguyễn Duy Khương3, Trần Đình Tân1, Phan Hữu Huỳnh1, Phạm Văn Bình1
1 Bệnh viện K
2 Trung tâm Giải phẫu bệnh-Sinh học phân tử, Bệnh viện K
3 Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện K
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định giá trị của cộng hưởng từ trong đánh giá xâm lấn diện cắt chu vi đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh & Nhận xét mối liên quan của một số yếu tố với tình trạng diện cắt chu vi. Phương pháp: Mô tả cắt ngang tiến cứu. Kết quả: Độ nhaỵ, độ đặc hiệu, độ chính xác: cộng hưởng từ trong đánh giá xâm lấn diện cắt chu vi đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh lần lượt là: 33,3% (95% CI: 4,3 – 77,7%); 93,7% (95% CI: 84,5 – 98,2%) và 88,4% (95% CI: 78,4 – 94,9%). Ghi nhận các yếu tố: vị trí khối u (p<0,05); xâm lấn thành ruột (T) trên cộng hưởng từ (p<0,001) và đường kính khối u (p<0,001); di căn hạch (N) (p<0,01); xâm lấn quanh thần kinh (p<0,05) ở giải phẫu bệnh có mối liên quan với tình trạng diện cắt chu vi (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê). Kết luận: Độ đặc hiệu và độ chính xác của cộng hưởng từ trong đánh giá xâm lấn diện cắt chu vi khá cao; tuy nhiên độ nhạy còn thấp. Các yếu tố nguy cơ liên quan với tình trạng diện cắt chu vi là: vị trí, đường kính khối u; độ xâm lấn thành ruột (T), mức di căn hạch (N) và tính chất xâm lấn quanh thần kinh.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.00772

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Lịch sử phẫu thuật ung thư trực tràng (UTTT) triệt căn hiện đại ghi dấu bởi cuộc cách mạng trong kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME) được khởi xướng bởi Heald & cộng sự (cs) (1982) và cùng với sự phối hợp điều trị đa mô thức đã đưa đến những kết quả ngoạn mục về mặt ung thư học. Tuy nhiên, tái phát tại chỗ vẫn là vấn đề khiến Nhà ngoại khoa ung thư luôn trăn  trở,  đặc  biệt  liên  quan  tới  tình  trạng  các diện cắt. Trải dọc chiều dài thế kỷ nghiên cứu về UTTT, giới hạndiện cắt dưới thường xuyên được nhắc đến ở các báo cáo, trong khi diện cắt chu vi vòng quanh u chỉ thực sự được chú ý sau mô tả đầu tiên của Quirke & cs (1986). Diện cắt chu vi (DCCV) được xác định là bề mặt không có phúc mạc của mẫu bệnh phẩm trực tràng sau khi mổ xẻ phẫu tích giải phóng di động đoạn trực tràng dưới  nếp  gấp  phúc  mạc.  Đánh  giá  tình  trạng DCCV là phép đo khoảng cách ngắn nhất (mm) từ mép ngoài cùng của tổ chức mô chứa tế bào ung thư đến bờ phẫu thuật theo chu vi (nơi được đánh dấu mực) dưới kính hiển vi. Kết luận giải phẫu  bệnh  (GPB)  xâm  lấn  DCCV  nếu  kết  quả phép đo ≤1mm, khi đó CRM (+); ngược lại với kết quả > 1mm, tức làCRM (-). Tình trạng DCCV là một trong những yếu tố tiên lượng độc lập & quan trọng liên quan tới nguy cơ tái phát tại chỗ, di căn xa cũng như sự sống còn. [1],  [3],  [4], [5], [6], [7], [8]Chụp  cộng  hưởng  từ  (CHT)  vùng  chậu  là phương pháp tiêu chuẩn để tiên đoán tình trạng DCCV trước mổ và có giá trị tốt nhất trong đánh giá khả năng xâm lấn cân mạc treo trực tràng (MRF). MRF được xác định là cấu trúc viền mảnh với cường độ tín hiệu thấp ở hình ảnh T2W trên mặt phẳng cắt ngang (axial). MRF là mặt phẳng phẫu tích trong kỹ thuật TME, như vậy MRF xem như đại diện hay sẽ trở thành DCCV nếu phẫu thuật  viên  đạt  được  mức  độ  TME  trọn  vẹn  lý tưởng. Theo Hiệp hội Chẩn đoán hình ảnh tiêu hoá  &  Ổ  bụng  châu  Âu  (ESGAR –2016),  nếu khoảng cách ngắn nhất từ bờ ngoài cùng của mô u đến MRF đo được: ≤1mm, tức là MRF (+); ngược lại > 2mm thì MRF (-); còn khi > 1mm & ≤2mm, lúc này tình trạng MRF “đe doạ”. [2], [3]Xuất  phát  từ  thực  tiễn  lâm  sàng  cùng  với nhận ra chủ đề có giá trị ý nghĩa, mà trong khi ở nước ta hiện nay chưa có công trình chuyên sâu về đánh giá tình trạng DCCV qua phân tích trên CHT & GPB. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích:-Xác định  giá  trịcủa  cộng hưởng  từtrong đánh giá xâm lấn DCCV đối chiếu với kết quảgiải phẫu bệnh.-Nhận  xét  mối  liên  quan  của  một  sốyếu  tốvới tình trạng DCCV