Đánh giá kết quả điều trị khớp giả xương đòn bằng kết xương nẹp vít tại Bệnh viện Trung ương QĐ 108

Đánh giá kết quả điều trị khớp giả xương đòn bằng kết xương nẹp vít tại Bệnh viện Trung ương QĐ 108.Gẫy xương đòn là một gẫy xương thường gặp, chiếm khoảng 2,5% – 5% trong tổng số gẫy xương nói chung và khoảng 10% – 15% trong tổng số gãy xương chi trên [8], [41].
Theo thống kê của Phạm Ngọc Nhữ [13], nguyên nhân gây ra gẫy xương đòn gặp nhiều nhất trong tai nạn giao thông là 85,4%. Xương đòn cong hình chữ S theo 2 chiều, nằm nông ngay dưới da, nên cố định khó vững khi bị gãy. Cho tới nay có tới 160 phương pháp cố định gẫy xương đòn đã được mô tả (Watson – Johnes 1962, Wetzen 1968). Tuy nhiên việc điều trị gẫy xương đòn chủ yếu là theo các phương pháp bảo tồn nắn chỉnh và cố định bằng các loại băng hoặc bột. Điều trị phẫu thuật kết hợp xương chỉ trong một số trường hợp như gãy xương đòn có biến chứng tổn thương mạch máu thần kinh, đỉnh phổi, gãy hở hoặc khi điều trị bảo tồn không đạt kết quả. Nhiều phương pháp kết xương đã được các tác giả áp dụng như kết xương bằng nẹp vít, đinh nội tủy hoặc buộc vòng dây thép. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phương tiện kết xương cũng được cải tiến có thể uốn cong theo các vị trị gãy của xương đòn để cố định xương đòn.

MÃ TÀI LIỆU

 CAOHOC.2022.00298

Giá :

50.000đ

Liên Hệ

0915.558.890


Tuy vậy, các phương pháp này thường cố định ổ gãy không vững nên dễ dÉn đến một số biến chứng như di lệch ổ gãy hoặc giãn cách ổ gãy làm chậm liền xương hoặc không liền xương, viêm rò ổ gãy [14], [27], [39].
Theo thống kê của Ngarmukos C. Nghiên cứu trên 108 bệnh nhân gãy xương đòn được xử trí bằng đinh nội tủy Kirschner, biến chứng chậm liền xương 10,91%. Theo Cheng Mien Chu và cộng sự đánh giá kết quả gãy xương đòn được xử trí kết hợp xường bằng đinh nội tủy Knowles biến chứng chậm liền xương 3,85%. Siebenman R. P. đãng đinh nội tủy bằng đinh RUSH gặp 4,6% chậm liền xương [59].2
Ở Việt Nam, điều trị gãy xương đòn chủ yếu là bảo tồn, kết hợp xương được áp dụng phổ biến hiện nay để điều trị gãy xương đòn ở các bệnh viện là đãng đinh nội tủy kết hợp buộc dây thép vòng số tám. Tuy nhiên, sau kết xương đòn còn để lại biến chứng khá nhiều nh- : không liền xương, khớp giả, viêm rò ổ gãy, di lệch ổ gãy… Nguyên nhân có biến chứng trên có thể là do chỉ định mổ kết xương đòn quá rộng rãi, phương tiện kết xương không được vững chắc, kỹ thuật mổ, vô trùng mổ chưa tốt…
Cho đến nay trong nước chưa có công trình nào nghiên cứu kết quả điều trị biến chứng khớp giả sau kết xương bên trong điều trị gãy xương đòn. Do đè, chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị khớp giả xương đòn bằng kết xương nẹp vít tại BVTW QĐ 108” Nhằm 2 mục tiêu:
1. Chỉ ra một số nguyên nhân gây biến chứng sau kết xương bên trong xương đòn.
2. Đánh giá kết quả điều trị biến chứng khớp giả xương đòn sau kết bên trong

TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT

1. Nguyễn Văn Bẩy (1997), “Gãy xương đòn – gãy xương bả vai”, Bài giảng bệnh học chấn thương chỉnh hình và phục hồi chức năng, Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, tr. 66 – 68.
2. Trần Đình Chiến (2001), Sinh lý của liền mảnh ghép, Bài giảng cao học chấn thương chỉnh hình, Học viện Quân Y.
3. Thái Văn Dy (1977), Bài giảng đại cương chấn thưong chỉnh hình, Học viện quân y, tr 1 – 22.
4. Lưu Hồng Hải (2001), “Nhận xét kết quả 63 trường hợp gãy thân xương dài dược kết hợp bằng nẹp vít ssanr xuất trong nước”, Tạp chí thông tin Y dược 12 – 2001, trang 7.
5. Đỗ xuân Hợp (1981), “Giải phẫu chức năng và ứng dụng chi trên, chi dưới”, Nhà xuất bản Y học Hà Nội.
6. Nguyễn Ngọc Liêm (1999), ”Điều trị khớp giả”, Bài giảng lớp tập huấn chấn thương chỉnh hình toàn quân, tr 54 – 68
7. Đỗ Lợi (1992), Bài giảng chấn thương chỉnh hình, Học viện Quân y, tr 6 – 12
8. Nguyễn Quang Long (1976), Tài liệu dịch, Kỹ thuật điều trị gãy xương của Boehler, L. Nhà xuất bản Y học, Tập 1, trang 176 – 174.
9. Nguyễn Quang Long (1972), 16 năm ghép xương tại khoa chấn
thương chỉnh hình Bệnh viện Việt Đức – Hà Nội, Công trình nghiên
cứu Y được (Bộ Y Tế xuất bản) Tập 2, trang 108 – 112.10. Nguyễn Quang Long, Trần Minh Linh và cs (1984), Xương ghép và
ghép xương (Điểm lại 25 năm ghép xương), Ngoại khoa tập XI, tháng
2, trang 33 – 36.
11. Nguyễn Quang Long (1997), ”Rối loạn của liền xương – khớp giả”,
Bài giảng chấn thương chỉnh hình và phục hồi chức năng, Trường Đại
học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, tr 9 – 13
12. Nguyễn Văn Nhân (1961), Kinh nghiệm điều trị khớp giả và không
liền xương bzwngf phương pháp ghép xương kiểu Phermiser, Ngoại
khoa quyển II, sè I, trang 51 – 59.
13. Phạm Ngọc Nhữ (1994), Một số nhận xét qua 151 bệnh nhân gãy
xương đòn được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật kết hợp xương
bên trong, Luận văn thạc sỹ Y học, Học viện Quân y.
14. Nguyễn Đức Phúc (1994), ”Gãy xương đòn”, Bệnh học ngoại khoa,
(4), NXB Y học, tr 20-22.
15. Nguyễn Đức Phúc , Nguyễn Trung Sinh (2000), Giáo trình ngoại đại
cương phần chấn thương chỉnh hình, tập VI, tháng 12, tr 32.
16. Nguyễn Đức Phúc (2002), Kỹ thuật mổ chấn thương chỉnh hình tập I,
tháng 10, trang 10.
17. Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Quang Trung (2002), “Kỹ thuật mổ chấn
thương chỉnh hình”, Tập III, tháng 11, trang 2.
18. Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Trung Sinh (1991), Nhân 337 trường hợp
về ngăn ngừa nhiễm khuẩn trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình,
Ngoại khoa tập san, tháng 2, trang 5 – 10.
19. Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Trung Sinh và cs (2004), ”Gãy xương
đòn”, Chấn thương chỉnh hình, NXB Y hoc, tr 206 – 211.20. Nguyễn Văn Quang (2002), “ảnh hưởng của lim loại chỉnh hình”, Kỷ
yếu toàn văn các đề tài khoa học – Huế, tháng 5, trang 213 – 215.
21. Trương Đồng Tâm và cs (2003), ”Kết quả điều trị gãy kín 1/3 giữa
xương đòn bằng bột kiểu số 8 cải tiến tại Bệnh viện Đa khoa Trung
ương Thái Nguyên”, Hội nghị khoa học Hội chấn thương chỉnh hình
toàn quốc lần thứ III, tr 115 – 119.
22. Nguyễn Ngọc Thảo (1995), Nhận xét kết quả bước đầu xương ghép
đồng loại bảo quản bằng phương pháp đông khô trong phẫu thuâth chấn
thương chỉnh hình, Luận án thạc sỹ Y học.
23. Lewis G, Zirkle, Jr, (1995), Sinh học của sự lành xương, Hội nghị
khoa học chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5,
trang 19 – 23