Điều trị phẫu thuật u não dưới hướng dẫn của siêu âm ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn

Điều trị phẫu thuật u não dưới hướng dẫn của siêu âm ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn: Nhân 2 trường hợp
Nguyễn Việt Đức, Dương Trung Kiên, Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Mạnh Hùng, Dương Đại Hà, Đinh Trung Thành, Vũ Ngọc Anh

U hệ thần kinh trung ương ở trẻ em chiếm khoảng 20% trong các loại ung thư ở trẻ em, cao hơn nhiều so với u hệ thần kinh trung ương ở người lớn và đứng thứ hai sau bệnh lý leucemia. U não đứng ở vị trí thứ nhất trong số những u đặc ở trẻ em. Phẫu thuật là một trong những lựa chọn điều trị hàng đầu giúp tăng khả năng sống sót của bệnh nhân. Chúng tôi báo cáo kết quả điều trị 2 trường hợp trẻ em được phẫu thuật lấy bỏ tổn thương dưới hướng dẫn của siêu âm tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn trong năm 2021.

Trường hợp 1: Trẻ nữ 33 tháng, vào viện vì nôn trớ và ỉa lỏng 1 tuần, sau đó trẻ xuất hiện ý thức chậm, giãn đồng tử bên phải, chụp cộng hường tử phát hiện khối u lớn vùng đỉnh – chẩm bên phải kèm theo chảy máu trong u. Bệnh nhân được phẫu thuật cấp cứu lấy u dưới hướng dẫn của siêu âm. Siêu âm trong mổ và chụp cộng hưởng từ sau mổ với kết quả khối u được lấy bỏ gần như toàn bộ. Giải phẫu bệnh là atypical terotoid/ rhabdoid tumor.

Trường hợp 2: Trẻ nam 9 tuổi, vào viện vì đau đầu, nôn, đi lại mất vững, ý thức chậm. Chụp cộng hưởng từ khối u vùng tiểu não bên phải, kèm phù não xung quanh. Bệnh nhân được phẫu thuật lấy gần như toàn bộ khối u và không có biến chứng thần kinh. Giải phẫu bệnh là medulloblastoma độ IV.

Kết luận: U não ở trẻ em là khối u đặc gặp hàng đầu. Điều trị phẫu thuật các khối u não dưới hướng dẫn của siêu âm có độ chính xác cao, tăng khả năng phẫu thuật lấy hết tổn thương, có hiệu quả tốt về mặt lâm sàng và chức năng cho bệnh nhân.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02459

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

 

 

Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn

Phẫu thuật nội soi điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em: Báo cáo một ca lâm sàng và tổng kết y văn
Châu Nguyễn Tuyết Vân, Huỳnh Cao Nhân, Trương Trọng Nhân, Trương Đình Khải

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán và phương pháp điều trị u vỏ thượng thận ở trẻ em.

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo 1 trường hợp u vỏ thượng thận được điều trị tại bệnh viện Nhi đồng Thành phố. Bệnh nhi nữ 15 tuổi, nhập viện vì đau đầu và tăng cân nhanh, chụp cắt lớp vi tính ghi nhận có một khối tổn thương xuất phát từ thượng thận trái. Bệnh nhi được phẫu thuật nội soi cắt u, gửi giải phẫu bệnh và kết quả phù hợp với chẩn đoán ban đầu là Oncocytic adrenal cortical adenoma.

Kết quả: Giai đoạn hậu phẫu, bệnh nhi hồi phục tốt, xuất viện sớm và vẫn còn được theo dõi,tái khám định kì theo hẹn.

Kết luận: Hiện nay, có rất ít các báo cáo y văn về bệnh lý u vỏ thượng thận ở trẻ em, các triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán và phương pháp điều trị chủ yếu dựa vào các tài liệu tổng quan. Phẫu thuật nội soi là phương pháp xâm lấn tối thiểu có thể được thực hiện trên bệnh lý này.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02458

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

 

 

 

Chuyển vị dạ dày: Hồi cứu và kinh nghiệm bước đầu

Chuyển vị dạ dày: Hồi cứu và kinh nghiệm bước đầu
Trần Tuyến, Vương Minh Chiều

Mục tiêu: Phẫu thuật chuyển vị dạ dày thay thế thực quản đang được sử dụng ngày càng phổ biến ở trẻ em nhờ ưu điểm về lượng máu nuôi dồi dào và khả năng kéo dãn của dạ dày. Nghiên cứu này nhằm hồi cứu và đánh giá những kinh nghiệm bước đầu về kỹ thuật chuyển vị dạ dày ở trẻ có thực quản bất thường do bẩm sinh hay mắc phải.

Phương pháp: Hồi cứu hồ sơ và theo dõi tất cả các trẻ được phẫu thuật chuyển vị dạ dày từ 01/01/2018 đến 15/06/2019 tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Những thông tin được ghi nhận gồm đặc điểm lâm sàng, phẫu thuật, biến chứng và theo dõi sau phẫu thuật.

Kết quả: Có 9 bệnh nhi được ghi nhận gồm 8 trường hợp teo thực quản gián đoạn dài và 1 trường hợp hẹp thực quản sau bỏng thực quản do hóa chất. Tuổi trung bình lúc phẫu thuật là 26 tháng. Không có biến chứng nào xảy ra trong lúc phẫu thuật. Có 2 trường hợp tử vong, một trường hợp tử vong trong giai đoạn hậu phẫu do sặc sữa dẫn đến suy hô hấp cấp, trường hợp còn lại tử vong sau khi xuất viện. Xì miệng nối xảy ra ở 3 trường hợp (33%), tất cả được điều trị bảo tồn thành công. Hẹp miệng nối xảy ra ở 2 trường hợp (22%). Trong quá trình theo dõi, có 1 trường hợp biểu hiện trào ngược dạ dày thực quản, đáp ứng tốt với điều trị nội khoa. Thời gian cho ăn lại trung bình là 22 ngày và thời gian nằm viện trung bình là 33 ngày.

Kết luận: Chuyển vị dạ dày là một lựa chọn phù hợp cho phẫu thuật thay thế thực quản ở trẻ em. Tất cả các trường hợp đều thành công trong việc khôi phục khả năng ăn uống đường miệng. Tỉ lệ xì miệng nối là 33%, và 22% trường hợp cần nong thực quản để giải quyết biến chứng hẹp miệng nối sau mổ. Trào ngược dạ dày thực quản là một biến chứng quan trọng, cần được theo dõi và phòng ngừa, đặc biệt ở giai đoạn hậu phẫu sớm. Việc theo dõi dài hạn là cần thiết để đánh giá các biến chứng lâu dài của phẫu thuật này.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02457

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

 

 

Kết quả điều trị động kinh kháng thuốc bằng phẫu thuật cắt liên kết bán cầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Kết quả điều trị động kinh kháng thuốc bằng phẫu thuật cắt liên kết bán cầu tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Lê Tuấn Anh, Hồ Trung Luân, Lê Nam Thắng

 

Tổng quan: Động kinh (ĐK) kháng thuốc là vấn đề lâm sàng phổ biến và khiến cho việc điều trị bệnh nhân trở nên khó khăn. Ở những bệnh nhân động kinh kháng thuốc có các thăm dò chẩn đoán liên quan tới tổn thương lan tỏa một bán cầu, phẫu thuật cắt liên kết bán cầu là lựa chọn tốt cho việc cải thiện điều trị và ngày càng phổ biến hơn. Tại bệnh viện nhi Trung ương đã tiến hành phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chức năng từ 2016, chúng tôi tiến hành nghiên cứu kết quả điều trị ở nhóm bệnh nhân trẻ em được điều trị cắt liên kết bán cầu chức năng tại Bệnh viện Nhi Trung ương nhằm mục đích đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật.

Đối tượng nghiên cứu: Nhóm 12 bệnh nhân được phẫu thuật cắt liên kết bán cầu chức năng điều trị động kinh kháng thuốc tại bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2016 đến 2022.

­­­Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên nhóm 12 bệnh nhân trẻ em đã được phẫu thuật cắt bán cầu chức năng từ 2016 – 2022. Chúng tôi thu thập thông tin nghiên cứu qua hồ sơ bệnh án, phim chụp chẩn đoán hình ảnh trước và sau phẫu thuật, tái khám bệnh nhân để đánh giá kết quả điều trị.

Kết quả: Về giới tính, tỉ lệ bệnh nhân nam/nữ = 5/1; về độ tuổi phẫu thuật:3,9±3,3 tuổi (9 tháng-10 tuổi); về thời gian từ khởi phát cơn tới phẫu thuật: 2,62 ± 2,29 năm (8 tháng – 7,5 năm); nhóm khởi phát động kinh từ sơ sinh chiếm tỉ lệ cao nhất: 50%; chẩn đoán trước mổ: phì đại bán cầu 58,3%, viêm não Rasmussen16,7 %, teo não thứ phát 16.7%, và 1 trường hợp cộng hưởng từ âm tính; 2 kĩ thuật mổ được thực hiện là Cắt liên kết theo Delalande 41,7%, cắt quanh thùy đảo biến đổi 58,3%; kết quả kiểm soát động kinh sau phẫu thuật Engel I: 50%, Engel II: 50%.

Kết luận: Phẫu thuật cắt liên kết bán cầu do động kinh kháng trị bệnh viện Nhi Trung ương bước đầu mang lại hiệu quả khả quan về kiểm soát cơn giật trong điều trị động kinh kháng thuốc.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02456

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

 

 

Điều trị các trường hợp bàn tay hồng mất mạch trong gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em

Điều trị các trường hợp bàn tay hồng mất mạch trong gãy trên lồi cầu xương cánh tay trẻ em
Trần Như Quỳnh, Phan Đức Minh Mẫn

Đặt vấn đề: Gãy trên lồi cầu xương cánh tay (GTLCXCT) là loại gãy thường gặp ở trẻ em, chiếm khoảng 3% các gãy xương ở trẻ và khoảng 55 – 80% các gãy xương vùng khuỷu [2], [3], [5]. Do sự liên quan chặt chẽ của các cấu trúc giải phẫu về thần kinh, mạch máu với xương vùng khuỷu, loại gãy này thường đi kèm với tổn thương bó mạch thần kinh trong những trường hợp gãy di lệch nhiều. Tỉ lệ tổn thương mạch máu là khoảng 3 – 20%; việc đánh giá và điều trị không phù hợp có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như chèn ép khoang, hoại tử chi hoặc co rút Volkmann [1], [4], [7]. Mặc dù chỉ định thám sát mạch máu trong những trường hợp bàn tay tưới máu kém khá rõ ràng, vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh chỉ định này đối với những trường hợp bàn tay mất mạch nhưng vẫn còn tưới máu tốt (bàn tay hồng mất mạch)[6], [8]. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đưa ra lựa chọn điều trị phù hợp cho những trẻ có GTLCXCT kèm bàn tay hồng mất mạch.

Mục tiêu: Đưa ra thời điểm phẫu thuật thám sát mạch máu hợp lí đối với các trường hợp bàn tay hồng mất mạch trong GTLCXCT trẻ em.

Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi hồi cứu hồ sơ bệnh án các trường hợp trẻ dưới 16 tuổi tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình có chẩn đoán GTLCXCT kèm mất mạch quay từ 01/01/2016 đến 30/06/2021. Những trường hợp này được ghi nhận thông tin về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hình ảnh, quá trình điều trị và kết quả tái khám. Phân tích giá trị của các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng trong gợi ý một tổn thương động mạch thật sự cần sửa chữa mạch máu, thời điểm nên phẫu thuật thám sát dựa vào kết quả điều trị và tái khám.

Kết quả: Có 88 trường hợp GTLCXCT có mất mạch quay trong nghiên cứu này, 85 trường hợp tay còn tưới máu tốt (bàn tay hồng mất mạch) và 3 trường hợp tay tưới máu kém (bàn tay trắng, lạnh, mất mạch). Độ tuổi trung bình là 6,1± 2,6 tuổi, trẻ nam chiếm ưu thế (khoảng 57,95%), tay trái thường gặp hơn tay phải (56,8% so với 43,2%) và nguyên nhân chủ yếu là do té chống tay trong tư thế quá duỗi của khuỷu. Hầu hết tình trạng mất mạch quay xảy ra ở những trường hợp GTLCXCT di lệch nhiều, kiểu sau ngoài (độ IIIB) chiếm đa số với 86,4%. Các triệu chứng như gãy hở, bầm máu trước khuỷu, dấu nhíu da, bập bềnh khớp khuỷu hay tổn thương thần kinh kèm theo dù số liệu cho thấy không có sự liên quan với khả năng có tổn thương động mạch cánh tay (ĐMCT) thật sự nhưng cũng phần nào gợi ý cho một cơ chế chấn thương nặng và cần đánh giá kỹ lưỡng. Có khoảng 65,8%  trường hợp đạt kết quả tốt sau kết hợp xương (KHX) đơn thuần không thám sát mạch máu. Tỉ lệ có tổn thương ĐMCT thật sự là 83,3% trong nhóm những bệnh nhân vẫn không có lại mạch quay sau 72 giờ hậu phẫu KHX và 100% trong nhóm những bệnh nhân mất mạch lại lần 2 sau phẫu thuật.   

Kết luận: Đối với các trường hợp bàn tay hồng mất mạch trong GTLCXCT trẻ em, KHX đơn thuần là phương pháp đơn giản, hiệu quả, tỉ lệ thành công cao mà không cần phải thám sát mạch máu ngay. Phẫu thuật thám sát mạch máu là cần thiết cho những trường hợp vẫn không có mạch quay dù tưới máu chi tốt sau khoảng 72 giờ theo dõi hậu phẫu KHX và cho tất cả những trường hợp mất mạch lại lần 2.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02455

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

 

 

Vi phẫu thuật u vùng tuyến tùng ở trẻ em

Vi phẫu thuật u vùng tuyến tùng ở trẻ em
Đặng Đỗ Thanh Cần
Bệnh viện Nhi Trung ương, 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam

Mục tiêu: Đánh giá vai trò vi phẫu thuật trong điều trị u vùng tuyến tùng.
Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả 18 bệnh nhân u vùng tuyến tùng đã được điều trị vi phẫu thuật tại BV Nhi đồng 2 từ tháng 04/2020 đến tháng 04/2022.
Kết quả: Chúng tôi ứng dụng 3 đường mổ chính cho u vùng tuyến tùng: đường mổ xuyên thể chai, đường mổ chẩm – xuyên lều và đường mổ dưới lều – trên tiểu não. Tỉ lệ lấy toàn bộ và gần hết u đạt 84%. Trong đó, hai đường mổ xuyên thể chai và chẩm – xuyên lều được sử dụng nhiều nhất 89%. Có 1 trường hợp tử vong (5,5%). Tỉ lệ biến chứng 16% với một bệnh nhân bị giảm thị lực tạm thời và hai bệnh nhân bị tụ dịch dưới màng cứng.
Kết luận: Ngày nay, điều trị cho các sang thương vùng tuyến tùng cần kết hợp đa mô thức. Vi phẫu thuật cần thiết trong khoảng 2/3 trường hợp. Mỗi đường mổ đều có ưu khuyết điểm riêng. Việc lựa chọn đường mổ phù hợp tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố và kinh nghiệm của phẫu thuật viên.

U vùng tuyến tùng là những loại u khá hiếm gặp. U thường gặp ở trẻ em, chiếm 3-8% u não trẻ em [1-3]. Giải phẫu bệnh lý rất đa dạng, có khi hoàn toàn lành tính, có khi rất ác tính (có trên 17 loại mô học). Có hai vấn đề lớn đã được đặt ra: một là giải quyết tình trạng đầu nước đi kèm do khối u gây tắc cống não, hai là chẩn đoán giải phẫu bệnh lý để lựa chọn điều trị thích hợp cho từng loại sang thương. Quan điểm điều trị các loại u.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02454

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Các yếu tố giúp tiên đoán áp xe tồn lưu sau mổ viêm ruột thừa vỡ ở trẻ em

Các yếu tố giúp tiên đoán áp xe tồn lưu sau mổ viêm ruột thừa vỡ ở trẻ em
Nguyễn Thị Tường Lam1*, Hồ Phi Duy1, Phạm Quốc Tùng2,
Huỳnh Thị Phụng Chân2, Trương Đình Khải

Mục tiêu: Xác định các yếu tố nguy cơ của áp xe tồn lưu (AXTL) sau mổ viêm ruột thừa(VRT) vỡ ở trẻ em và giá trị của các yếu tố trên trong tiên đoán AXTL.
Phương pháp: Nghiên cứu bệnh-chứng.
Kết quả: 56 bệnh nhi bị AXTL (nhóm bệnh), 112 bệnh nhi không bị AXTL (nhóm chứng) được đưa vào nghiên cứu. Xác định các yếu tố nguy cơ bằng hồi quy logistic đa biến, chỉ có thời gian khởi phát > 4 ngày, sốt vào hậu phẫu (HP) 3-5, tỉ số Neutrophil/Lymphocyte HP3- 5 ≥ 5 là yếu tố nguy độc lập của AXTL. Ngưỡng cắt tối ưu của thời gian khởi phát và tỉ số Neutrophil/Lymphocyte HP3-5 trong tiên đoán AXTL lần lượt là 4 ngày và 4,3. Giá trị tiên đoán âm khi vắng mặt cả 3 yếu tố là 90,5%; giá trị tiên đoán dương khi có cả 3 yếu tố là 100%.
Kết luận: Kết hợp các yếu tố nguy cơ để tiên đoán AXTL giúp đánh giá xuất viện sớm bệnh nhân VRT, hạn chế nằm viện kéo dài và nhập viện lại vì biến chứng.

Viêm ruột thừa ở trẻ em có khoảng 1/4 − 1/3 trường hợp có ruột thừa đã vỡ ở thời điểm chẩn đoán [1], làm cho tỉ lệ biến chứng sau mổ tăng rõ rệt. Áp xe tồn lưu là một trong những biến chứng thường gặp nhất sau mổ VRT vỡ làm kéo dài thời gian nằm viện, tăng nguy cơ can thiệp lại, nhập viện lại [1]. Nhiều khuyến cáo được đưa ra nhằm giảm tỉ lệ AXTL nhưng phẫu thuật và điều trị hậu phẫu VRT vỡ vẫn rất khác nhau giữa các trung tâm và các phẫu thuật viên. Việc kéo dài kháng sinh chích hơn 5 ngày sau mổ VRT vỡ không có tác dụng ngăn ngừa biến chứng, còn làm tăng chi phí và thời gian nằm viện (mức khuyến cáo IB) [2,3]. Có nhiều bệnh nhân bị AXTL sau khi xuất viện, việc ngưng kháng sinh và xuất viện sớm những trường hợp này làm bệnh nhân phải nhập viện lại. Trong thời gian hậu phẫu, chỉ định siêu âm sớm trước ngày HP5 có thể làm tăng gánh nặng điều trị vì ổ tụ dịch có thể tự giới hạn. Ngược lại, siêu âm muộn làm kéo dài thời gian chờ đợi để xuất viện. Vì thế, phân loại nguy cơ và tiên đoán biến chứng là cần thiết để có kế hoạch điều trị và xuất viện phù hợp.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02453

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cái hóa ngón trỏ ở bệnh nhi thiểu sản ngón cái bẩm sinh

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật cái hóa ngón trỏ ở bệnh nhi thiểu sản ngón cái bẩm sinh
Hoàng Hải Đức*, Tạ Trần Tùng

Đặt vấn đề: Thiểu sản ngón cái bẩm sinh làm suy giảm đáng kể chức năng bàn tay, phẫu thuật cái hóa ngón trỏ là kỹ thuật đã được áp dụng phổ biến trên thế giới để phục hồi chức năng và thẩm mỹ cho bàn tay. Từ năm 2018, tại Khoa Chỉnh hình Bệnh viện Nhi Trung ương đã bắt đầu thực hiện điều trị thiểu sản ngón cái bẩm sinh bằng phương pháp cái hóa ngón trỏ.
Phương pháp: Nghiên cứu trên 8 bệnh nhân với 9 ngón cái được phẫu thuật cái hóa ngón trỏ theo kỹ thuật của Buck – Gramcko từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 11 năm 2021 tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Bệnh nhân được khám lâm sàng đánh giá tầm vận động, cảm giác của ngón cái hóa và chức năng của bàn tay sau mổ. Đánh giá mức độ hài lòng của cha mẹ bệnh nhân về hình dáng và chức năng ngón cái mới.
Kết quả: Ngón cái hóa có tầm vận động thấp hơn so với ngón cái bình thường, cảm giác nông bình thường ở tất cả các bệnh nhân sau mổ. Chức năng bàn tay cải thiện rõ rệt khi cầm nắm các vật kích thước lớn. 50% cha mẹ bệnh nhân hài lòng về hình dáng và chức năng ngón cái hóa.
Kết luận: Phẫu thuật cái hóa ngón trỏ bước đầu đã mang lại hiệu quả trong điều trị thiểu sản nặng hay khuyết ngón cái, chức năng và hình dáng của bàn tay cải thiện đáng kể sau mổ.

Thiểu sản ngón cái bẩm sinh làm suy giảm đáng kể chức năng của bàn tay do ngón cái bình thường đóng góp tới 40% chức năng đó [1-2]. Phân loại Blauth cải tiến chia thiểu sản ngón cái bẩm sinh thành 5 type, mô tả mức độ thiểu sản ngón cái và hướng dẫn điều trị [3]. Hiện nay, phẫu thuật cái hóa ngón trỏ là phương pháp được lựa chọn để tái tạo ngón cái đối với các trường hợp thiểu sản ngón cái type IIIb, IV và V. Được giới thiệu đầy đủ lần đầu tiên bởi Buck-Gramcko (1971), trải qua hơn 50 năm, kỹ thuật đã được bổ sung và cải tiến bởi nhiều phẫu thuật viên trên thế giới.
Phẫu thuật bao gồm việc xoay và chuyển ngón trỏ cùng với cuống mạch máu thần kinh sang vị trí của ngón cái, các cơ nội tại và gân duỗi ngón được chuyển lại để tái tạo ngón cái mới có thể thực hiện các chức năng gấp, duỗi, dạng, khép và đối chiếu .

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02452

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH: MỘT NGHIÊN CỨU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở MỘT VÙNG NÔNG THÔN CỦA THÁI BÌNH

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH: MỘT NGHIÊN CỨU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở MỘT VÙNG NÔNG THÔN CỦA THÁI BÌNH
Tăng Thị Hảo1*, Tăng Thị Hải1

Mục tiêu: Trong quá trình chuyển đổi sang thời kỳ mãn kinh lượng hormone có nhiều biến động khiến phụ nữ mãn kinh dễ mắc các rối loạn về tinh thần và thể chất, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ. Các nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến mãn kinh, đặc biệt là ở phụ nữ nông thôn, cũng thiếu. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh.
Phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 296 phụ nữ mãn kinh ở độ tuổi 45- 60 ở 2 xã Tân Phong, Tân Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Dữ liệu được thu thập với 2 bộ công cụ nghiên cứu: Thang đo đánh giá mức độ triệu chứng mãn kinh (MRS) và bảng câu hỏi chất lượng cuộc sống của tổ chức y tế thế giới (WHOQOL-BREF).
Xác định một số yếu tố liên quan đến CLCS gồm: Nhân khẩu học, mức độ các triệu chứng mãn kinh.
Kết quả: Nhóm đối tượng có trình độ học vấn dưới tiểu học có chất lượng cuộc sống thấp hơn 0,3 lần so với nhóm có trình độ TH-CĐ-ĐH. Nhóm phụ nữ làm ruộng có chất lượng cuộc sống thấp hơn 0,24 lần so với nhóm cán bộ viên chức. Tỷ lệ phụ nữ mãn kinh cho rằng mức thu nhập là không đủ có CLCS thấp hơn 23,2 lần so với nhóm phụ nữ mãn kinh cho rằng mức thu nhập là đủ trở lên.
Phụ nữ mãn kinh không tham gia thể dục thể thao, không khám sức khỏe định kỳ, không tham gia hoạt động xã hội và không đến cơ sở y tế khám bệnh có CLCS thấp hơn 3,2- 13,2 lần so với nhóm có tham gia thể dục thể thao, có khám sức khỏe định kỳ, có tham gia hoạt động xã hội và có đến cơ sở y tế khám bệnh.Tỷ lệ phụ nữ mãn kinh có các triệu chứng mãn kinh từ mức độ nhẹ cho đến vô cùng nghiêm trọng có CLCS thấp hơn 0,2-0,5 lần so với nhóm không có triệu chứng mãn kinh. Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra có mối liên quan giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức thu nhập, thói quen sinh hoạt, mức độ triệu chứng mãn kinh với chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02450

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TRẦM CẢM CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI 2 XÃ THUỘC HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TRẦM CẢM CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI 2 XÃ THUỘC HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Tạ Thúy Loan1*, Trần Thị Phương

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống bệnh trầm cảm của người cao tuổi
năm 2021.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 387 người cao tuổi tại 2 xã của huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Kết quả: Có 59,4% người biết đến dấu hiệu khó tập trung chú ý là biểu hiện của bệnh trầm cảm.
Gần một nửa số đối tượng (43,4% và 49,4%) biết đến dấu hiệu của bệnh như: giảm sút tính tự trọng,lòng tự tin, và tự buộc tội, tự cho mình không xứng đáng. Trên 60% người biết thực hành phòng chống trầm cảm bằng cách tham gia các hoạt động xã hội năng vận động, và suy nghĩ tích cực. Khi có dấu hiệu buồn chán, hơn một nửa số thành viên tham gia nghiên cứu (62,3%) lựa chọn phương pháp tìm sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè, hay tập thể dục thường xuyên. Việc chọn duy trì chế độ ăn lành mạnh cũng được lựa chọn bởi hơn 1 nửa trong số họ (58,1%).

Trầm cảm có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, với khoảng 5% dân số thế giới rơi vào tình trạng bệnh, tuy nhiên tỷ lệ này thường cao hơn ở người cao tuổi. Đây là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây suy giảm chức năng xã hội sau các bệnh lý tim mạch và được dự đoán là nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật toàn cầu đến năm 2030. Hội chứng trầm cảm đã góp phần lớn trong các bệnh không gây tử vong, chiếm gần 12% của tổng số năm sống của con người với khuyết tật. Trên thực tế, hơn 90% người cao tuổi có các biểu hiện trầm cảm mà không được chẩn đoán và điều trị thỏa đáng. Nghiên cứu này được tiến hành tại 2 xã thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình với mục tiêu nghiên cứu là mô tả thực trạng kiến thức, thực hành phòng chống bệnh trầm cảm của người cao tuổi năm 2021.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.02450

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890