THỰC HÀNH XỬ TRÍ CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG SAU PHƠI NHIỄM VỚI MÁU, DỊCH CƠ THỂ, 2020

THỰC HÀNH XỬ TRÍ CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG SAU PHƠI NHIỄM VỚI MÁU, DỊCH CƠ THỂ, 2020
Nguyễn Ngọc Bích1, Phạm Hữu Kiệt2
1 Trường Đại học Y tế công cộng
2 Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan Bở nhân viên y tế luôn mức cao do thường xuyên phải tiếp xúc với máu, dịch tiết của người bệnh bị nhiễm vi rút viêm gan B. Để giảm tỷ lệ mắc bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp, bên cạnh tiêm phòng vắc xin,các biện pháp dự phòng lây nhiễm đóng vai trò rất quan trọng. Nghiên cứu thực hành xử trí cuả điều dưỡng lâm sàng sau phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang năm 2020. Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp định lượng trên 385 điều dưỡng lâm sàng của bệnh viện. Kết quả nghiên cứu cho thấy 64,6% điều dưỡng thực hành đúng xử trí sau phơi nhiễm với vật sắc nhọn hoặc máu, dịch cơ thể. Tăng cường kiểm tra giám sát thường xuyên về các quy trình kỹ thuật đều dưỡng, quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn và các quy trình phòng ngừa chuẩn trong bệnh viện, nhất là những trường hợp bị tai nạn nghề nghiệp thì cần phải báo cáo ngay và đúng quy trình để có hướng xử trí kịp thời.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.00747

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp (VGVRB) đang được rất quan tâm hiện nay vì đặc tính tiến triển  trầm  lặng  và  hậu  quả  rất nặng  nề  cho người bị bệnh, bệnh viêm gan vi rút B do yếu tố nghề nghiệp được công nhận là một  trong 34 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm tại Việt Nam. Nhân viên y tế là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HBV rất cao, NVYT là lực lượng lao động thường xuyên trong bệnh viện bao gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên… nhưng điều dưỡng là người  thường  xuyên  trực  tiếp  chăm  sóc  cho bệnh nhân. Công việc chính là làm các thủ thuật như truyền dịch, tiêm thuốc, lấy máu…nên đây là đối tượng có nguy cơ cao sẽ lây truyền các bệnh truyền nhiễm trong đó có bệnh viêm gan vi rút B(1). Nhân viên y tế là đối tượng có nguy cơ nhiễm VGVRB rất cao. Tỉ lệ NVYT nhiễm VGVRB trong nghiên  cứu  tại  miền  Bắc  của  Khúc  Xuyền  là 13,1% (2), miền Trung của Viên Chinh Chiến là 17,6% (3), miền Nam bệnh viện Nhân Dân Gia Định là 39% (4). Nguy cơ nhiễm VGVRB cao là tổn thương da bao gồm:  Tiêm dưới da, mảnh thủy tinh, mũi kim khâu, lấy máu tĩnh mạch…Ngoài ra còn có dịch cơ thể bắn vào niêm mạc mắt,  mũi,  miệng,  da  trầy  xước  hoặc  các  vết thương hởdo tiếp xúc với máu hoặc sản phẩm của máu nhiễm HBV. HBV có khả năng sống lâu nhiều tháng trong vết máu khô, VGVRB có khả năng lây nhiễm gấp 50-100 lần so với HIV (8, 9). Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu tìm hiểu thực hànhxử trícủa điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện đa khoatrung  tâmAn  Giang  sau khi phơi nhiễm với máu,dịch cơ thể để phòng ngừa viêm gian B nghề nghiệp.

Chi tiết bài viết
Từ khóa
xử trí sau phơi nhiễm, điều dưỡng, bệnh viện, viêm gan B nghề nghiệp

Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Lệ Ngân, Dư Hồng Đức, (2009), Xác định tỉ lệ mới mắc bệnh viêm gan B nghề nghiệp tại một số bệnh viện. 
2. Khúc Xuyền (1999), Điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe người lao động tiếp xúc với vi sinh vật nguy hiểm (vi rút viêm gan B), Đề tài khoa học công nghệ. 
3. Viên Chinh Chiến, Nguyễn Thụ Thế Trâm, Đinh sĩ Hiền, (1998), Điều tra về tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B trong nhân viên y tế tại một số tỉnh Miền Trung, Tóm tắt Hội nghị khoa học về Y học lao động toàn quốc lần thứ III. 
4. Võ Hồng Minh Công, Trần Xuân Linh, Đặng Công Hân, (2009), Khảo sát tình trạng nhiễm siêu vi viêm gan B của nhân viên y tế Bệnh viện Nhân dân Gia định Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 13 (6). 
5. Phan Công Trắng (2018), Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút B,C nghề nghiệp của điều dưỡng các khoa lâm 
6. Trần Thị Bích Hải (2013), Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội. 
7. Nguyễn Thị Mỹ Khánh (2018), Kiến thức, thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre năm 2018. 
8. Nguyễn Thúy Quỳnh, Dư Hồng Đức, Nguyễn Lệ Ngân (2009), Thực trạng nhiễm HBV và các yếu tố ảnh hưởng trong nhân viên y tế tại một số bệnh viện của Việt NamTrường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội. 
9. Nguyễn Việt Hùng, (2008), Nghiên cứu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế về dự phòng cơ bản tại bệnh viện Bạch Mai