THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH TẠI KHOA SẢN Ở BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TỈNH LẠNG SƠN

THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH TẠI KHOA SẢN Ở BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM TỈNH LẠNG SƠN
Trần Thị Nhi1, Mai Thị Nguyệt2, Vũ Thị Nhung1
1 Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
2 Trường Cao đẳng Y tế Lạng Sơn
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Nghiên cứu cắt ngang trên 298 bà mẹ có con tại khoa Sản, bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Lạng Sơn nhằm điều tra về thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ. Kết quả cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về sữa non 11,1%, sữa trưởng thành 13,4%; có 44,3% bà mẹ biết trong giai đoạn nuôi con bú phải có chế độ riêng về ăn uống, lao động và nghỉ ngơi. Tỷ lệ bà mẹ vắt bỏ sữa non là 12,1% và có 30,2% trẻ vẫn được bà mẹ cho ăn thực phẩm khác ngoài sữa trước khi bú lần đầu sau sinh. Tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng tư thế khi cho trẻ bú là 30,4%. Thực trạng này làm ảnh hưởng đến thực hành đúng trong nuôi con bằng sữa mẹ.

MÃ TÀI LIỆU

TCYDH.2022.00743

Giá :

20.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Trong  những  năm  gần  đây,  NCBSM  được quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực dinh dưỡng trẻ em. Đã có nhiều hội nghị trong nước và quốc tế dànhriêng cho vấn đề này vì tính thực tế và tính ưu việt của nó. Tổ chức Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) đã coi NCBSM là một trong những biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em  [1]. Thực tế tại Việt Nam các bà mẹ không có thực hành tốt trong việc nuôi con bằng sữa mẹ khiến tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn ở mức cao, theo nghiên cứu năm 2008 của Từ Mai ở Viện dinh dưỡng, trẻ bú mẹ hoàn toàn  trong  6  tháng  đầu  là  16,2%[2].  Theo nghiên  cứu  của  Nguyễn  Lân  và  cộng  sự  năm 2013 ở Phổ Yên, Thái Nguyên chỉ có 44,4% bà mẹ cho con bú ngay trong vòng 1/2 giờ sau sinh [3]. Điều đáng lo ngại hơn là chỉ có 10% bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu trong khi tỉ lệ này ở Campuchia là 65%, và tỷ lệ trung bình ở các nước Châu Á là 40%… [4].Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới, là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, việcnuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu  nhằm đánh giá thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹsau sinh tại khoa sản ở bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Lạng Sơn từ đó đưa ra khuyến nghị cần thiết nhằm nâng cao nhận thức và thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹcủa các bà mẹ

Chi tiết bài viết
Từ khóa
thực trạng, nuôi con bằng sữa mẹ, bệnh viện Lạng Sơn

Tài liệu tham khảo
1.WHO/UNICEF (2007), "Indicators for assessing infant and young child feeding practices, part 1 definitions, Washington, DC, USA", pp. 11. 
2. Mai Từ (2008), "Tìm hiểu thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại trung tâm khám tư vấn dinh dưỡng Viện Dinh Dưỡng", Tạp chí DD&TP/Journal of Food and Nutrition Sciences 5(2). 
3. Trịnh Bảo Ngọc, Nguyễn Lân (2013), "Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ, thực hành ăn bổ sung, tình hình nuôi dưỡng và bệnh tật của trẻ 5 – 6 tháng tuổi tại huyện phổ yên tỉnh thái nguyên", Y học thực hành 886, tr. 56. 
4. Khương Văn Duy, Đặng Cẩm Tú, Nguyễn Thị Hòa Bình (2012), "Thực trạng thái độ nuôi con bằng sữa mẹ của phụ nữ tại ba tỉnh: Lào Cai, Hà Nam, Quảng Bình năm 2001", Y học thực hành 817, tr. 119. 
5. Phan Thị Anh Tuyết (2013), "Tìm hiểu kiến thức nuôi con bừng sữa mẹ của bà mẹ sau sinh tại khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y dược Huế", Trường Đại học Y dược Huế, tr. 20. 
6. Đàm Thị Thơ (2016), "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên qua của trẻ dưới 36 tháng tuổi tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn năm 2014", Trường Đại học Y Hà Nội, tr. 35-58. 
7. Nguyễn Anh Vũ (2011), "Kiến thức và thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 12 – 24 tháng tại huyện Tiên Lữ năm2011", Tạp chí y học Thực hành, 82(2). 
8. Trần Thị Thắm (2016), "Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành nuôi con của bà mẹ huyện Trần Yên, tỉnh Yên Bái năm 2015", Trường Đại học Y Hà Nội tr. 35-57. 
9. Lê Thị Hương, Đoàn Thị Ánh Tuyết (2011), "Tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ dưới 2 tuổi và thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ tại Hướng Hoá và Dakrong năm 2011", Trường Đại học Y Hà Nội, tr. 20-30.