THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHUẨN BỊ TRƯỚC PHẪU THUẬT CÓ KẾ HOẠCH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHƯƠNG ĐÔNG NĂM 2020

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHUẨN BỊ TRƯỚC PHẪU THUẬT CÓ KẾ HOẠCH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHƯƠNG ĐÔNG NĂM 2020
Học viên: Nguyễn Quang Huy
Giáo viên hướng dẫn: TS.BS Lê Thị Hằng
An toàn là một trong những tiêu chí cơ bản để đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Theo tổ chức y tế Thế giới (WHO) với dữ liệu từ 56 quốc gia, an toàn trong phẫu thuật là nguyên nhân của gần 1 triệu ca tử vong hàng nằm trên toàn thế giới, một nửa trong số đó được coi là có thể phòng ngừa được (1, 2). Tuân thủ quy định chuẩn bị trước phẫu thuật là
Mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hiện quy trình CBNB trước phẫu thuật có kế hoạch của NVYT tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện này từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2020.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang, định lượng kết hợp định tính trên sự quan sát việc chuẩn bị 151 người bệnh (NB) được mổ có kế hoạch của 38 điều dưỡng khoa có phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 và Excel. Các biến số trong nghiên cứu bao gồm chuẩn bị trước ngày phẫu thuật, chuẩn bị tinh thần, chuẩn bị thể chất, chuẩn bị hồ sơ bệnh án, chuẩn bị, bàn giao người bệnh và các biến về yếu tố ảnh hưởng
theo các bước trong hướng dẫn quy trình chuẩn bị người bệnh của điều dưỡng (3, 4) .
Thang đo sử dụng bảng kiểm bệnh viện xây dựng theo hướng dẫn xây dựng bảng kiểm quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế. Số liệu định tính thu thập qua 7 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo BV, trưởng các khoa có người bệnh phẫu thuật và 1 cuộc thảo luận nhóm với
nhân viên y tế khoa và được gỡ băng phân tích. Kết quả: Nhìn chung, tỷ lệ NVYT tuân thủ đầy đủ các bước đạt mức 62,5%, chuẩn bị trước ngày PT đạt yêu cầu thấp hơn hẳn là 45,5%. Chuẩn bị không đạt trước PT chiếm tới 22,5%, công tác chuẩn bị HSBA cũng không đạt là 15,23%. Nghiên cứu cũng chỉ ra NVYT có thâm niên công tác ngắn <5 năm ít tuân thủ quy trình hơn so với NVYT có thâm niên công tác dài hơn. Các yếu tố cản trở việc thực hiện quy trình là nhân lực,  sự hợp tác giữa NVYT và NB hay kiểm tra giám sát đều tương tự so với các nghiên cứu khác.
Kết luận và khuyến nghị: Công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật của NVYT đã thực hiện đạt ở mức trung bình. Các bước đã được thực hiện nhưng còn chưa tốt tại Bệnh viện là chuẩn bị hồ Sơ Bệnh án và chuẩn bị NB trước ngày phẫu thuật. Yếu tố nhân lực và vấn đề điều hành tại Bệnh viện thiếu nhất quán ảnh hưởng tới công tác này. Ngoài ra, các quy định chế tài cũng chưa đủ sức răn đe cũng như khuyến khích việc thực hiện công tác chuẩn bị của NVYT. Từ đó đưa ra khuyến nghị như sau: Ban lãnh đạo bệnh viện phối hợp chuẩn hoá quy trình phù hợp với đơn vị giúp tiết kiệm thời gian cho công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật. Phòng KHTH – QLCL tăng cường kiểm tra, giám sát đảm bảo việc thực hiện quy trình, quy định của các khoa có người bệnh phẫu thuật, lập biên bản các trường hợp vi phạm hoặc đề xuất khen thưởng kịp thời các cá nhân tập thể tuân thủ tốt việc thực hiện quy trình. Tăng cường đào tạo cho NVYT về công tác chuẩn bị theo quy trình (nhất là những nhân viên mới). Tuyển dụng đầy đủ nhân sự theo vị trí việc làm của từng khoa.